Thứ Tư, 14 tháng 6, 2017

KHOÁNG VI LƯỢNG ĐỒNG (Cu)- VAI TRÒ CỦA KHOÁNG VI LƯỢNG ĐỒNG


Đồng là một nguyên tố vi lượng cần thiết cho hoạt động của nhiều loại enzyme và các phản ứng của protein. Đồng cũng rất cần thiết cho một số quá trình như sinh sản, sự phát triển của xương đã đươc dự đoán, các chức năng này phụ thuộc lẫn nhau, nhưng có hai chức năng được thể hiện rõ nhất trên hai nhóm enzyme: enzyme tyrosinase (tạo sắc tố), enzyme lylsyloxydases (phát triển những mô liên kết) (Suttle,1987a; Prohaska, 2006).
Chức năng chống oxi hóa
Đồng có thể bảo vệ mô cơ thể chống lại các tác nhân ”stress oxi hóa” có từ các gốc tự do, bao gồm những sản phẩm sinh ra từ quá trình hô hấp, và nó tương tác vói nhiều chất dinh dưỡng với tính chất là chất chống oxi hóa. Bạch cầu trung tính dựa vào hoạt động hô hấp của tác nhân gây bệnh và chúng tạo ra chất siêu oxi hóa (O2-) để tiêu diệt tác nhân gây bệnh. Thí nghiệm được thực hiện trong invitro (Jonh and Shuttle,1987). Hoạt động của enzyme catalase ở gan bị giảm trong triệu chứng thiếu Cu (Taylor et al., 1988). Enzyme catalase đồng hóa H2O2 từ những chất có gốc OH- nguy hiểm, khi có tín hiệu từ tế bào.
Chức năng hô hấp
Ở đâu cung có phức hợp haem enzyme, cytochrome c oxidase (CCO), đáp ứng sự vận chuyển electron trong hoạt động của chuỗi hô hấp trong việc tạo ra năng lượng cho hoạt động của tế bào. Sự giảm hoạt động của CCO cũng là nguyên nhân phổ biến gây rối loạn, bao gồm sự suy giảm của bạch cầu trung tính, một thành phần quan trọng của hệ thống miễn dịch (Jones and Suttle, 1987).







Bảng 2: Chức năng một số enzyme phụ thuộc vào nguyên tố Cu
Enzyme
Chức năng
Kí hiệu (viết tắt)
Ghi nhận bệnh học
Caeruloplasminb (ferroxidase)
Fe2+ → Fe3+, hence Fe, hence Fe, transport; antioxidant
Cp
Bệnh thiếu máu ( Anaemia)
Cytochrome c oxidase
Terminal electron-transfer respiratory chain
CCO
Anoxia (causing neurona degeneration, cardiac hypertrophy)
Oxidative deamination of diamines and their derivatives
Oxidative deamination of diamines and their derivatives
DAO
Unknown
Dopamine-β- monooxygenase
Catecholamine metabolism
DBM
Behaviour?
Hephaestin
Export of iron from intestine
HEP
Anaemia
Ferroxidase II
Iron oxidation

Anaemia
(Nguồn: Boham et al, 2002; Prohaska)
Đồng thì có nhiều ở các đồng cỏ bãi chăn gia súc, có ở trong thức ăn thô xanh, ngũ cốc, trong các loại thực vật trưởng thành, với những điều kiện pH trung tính (McFarlane et al., 1990)
Trong thức ăn thô xanh thì lá chiếm lượng đồng cao hơn trong cọng và cành, giảm ở thực vật đã phát triển hoàn toàn các bộ phận từ 40 đến 60% (Szentmihalyi et al. 1986).
Triệu chứng thiếu đồng ở dê (thấp hơn 2 mgCu/kg DM/ngày) tăng lượng kẽm chứa trong gan và buồng trứng, và nó làm giảm 50% thức ăn đưa vào (Gruen et al. 1986).
Bảng 3: Sự khác nhau về hàm lượng Cu trong một số cơ quan ở một số loài nhai
Tên động vật
Não (mg/kg DM)
Gan (mg/kg DM)
Lông (mg/kg DM)
Nai
5.6
46
5.8
Cừu
17.0
196
9.6
14.0
10
4.7
Gia súc
11.0
137
7.2
(Nguồn: George F. W. Haenlein)
Có ít tài liệu đã công bố về vấn đề này, người ta biết rằng khả năng đồng hóa Cu rất thấp, nhưng khả năng đó không thể dự đoán trước được một cách chính xác. Underwood nhận xét rằng, chỉ 5-10% Cu trong khẩu phần là được hấp thu và giữ lại trong cơ thể động vật; sự giữ Cu trong cơ thể động vật bị giảm do ảnh hưởng của mức sử dụng rất cao bất thường về Mo hoặc sulfat. Murty đã tìm được phương trình hồi qui về mối tương quan của sự giữa Cu với mức sử dụng Cu theo những số liệu xác định trên 24 cừu trưởng thành ăn từ 4.2 đến 9.9 mg Cu/24 giờ. Nhu cầu duy trì bằng 3.85 mg/24 giờ đã được xuất phát từ sự sử dụng ứng với mức giữ lại bằng 0 và đã tính tương đương với sự sử dụng 7mg Cu/kg DM thức ăn.
Theo tài liệu của Dick thì hàm lượng chung của Cu trong cơ thể của hai cừu non thiến tương ứng bằng 182 và 228 mg, và cũng theo tác giả thì trong lông cừu chứa khoảng 5 mg Cu/kg. Theo Cunningham thì nồng độ Cu trong gan động vật mới sinh cao hơn so vói động vật già. Hàm lượng Cu trong sữa cừu trung bình bằng khoảng 0.15 mg/lít.
Một số lượng lớn tài liệu tham khảo chỉ ra rằng, sự thiếu Cu không biến chứng gặp ở cừu nuôi trên bãi chăn chứa 1- 4 mgCu/kg.
Những dấu hiệu ngộ độc mãn tính đã được phát hiện ở cừu ăn 30mg Cu trong 24 giờ.
Từ những kết quả thí nghiệm về nuôi dưỡng cho thấy rằng, nồng độ thích hợp cho cừu là 5mg/kg DM.
Điều kiện mất diều hòa ở những con cừu non là tình trạng thiếu Cu. Triệu chứng này xuất hiện sau khi sinh hoặc một vài tuần khi sinh. Dấu hiệu ghi nhận thong thường là sự mất điều hòa việc bú sữa của cừu con. Các cơ của cừu mềm ra không có sựu gắn kết chặt chẽ với nhau, sự thoái hóa của các bao sợi myelin. Cừu con có thể bị yếu ớt và có thể chết bởi vì nó không đủ sức vượt qua khi nuôi dưỡng. Khi cừu mẹ mang thai mà thiếu Cu trong thời gian dài đó là một điều kiện ảnh hưởng lên sự phát triển của hệ thần kinh trung ương của cừu non ( Howell, 1970; Underwood, 1977; Miller, 1979a).
Cừu có thể chịu dựng được sự thiếu Cu lông cừu phát triển có dạng xơ, rối bời và cứng, lông xếp không thành nếp, lông có thể kéo dài ra thành chuỗi. Lông thì không có màu hay thiếu sắc tố lông ở những cừu có màu lông đen ở những chỉ số trong triệu chứng thiếu Cu (Underwood, 1977). Điều kiện tương tự đã được ghi nhận khi xảy ra trên những cừu có lông đen khi sử dụng Mo với hàm lượng cao. Sự thiếu máu, xương bị biến dạng và sự không thụ thai nó liên hệ với tình trạng thiếu Cu ở cừu(Underwood, 1977).
Nhu cầu Cu cho cừu thì liên quan đến chế độ ăn và cũng liên hệ với yếu tố di truyền, nhu cầu Cu có sự khác nhau vào tùy vào tình trạng của cừu nó không và nhu cầu Cu không tùy thuộc vào một điều kiện cụ thể nào áp dụng. Nồng độ của S và Mo trong chế độ ăn chính là một nhân tố ảnh hưởng lên nhu cầu của Cu. Các dạng phức hợp khoáng không hòa tan của Cu làm giảm sự hấp thu Cu và là tăng nhu cầu của chúng trong khẩu phần cần được bổ sung. Sự xuất hiện của S đưa đến ảnh hưởng độc lập phát huy những giá tri sẵn có của Cu, nhưng S và Mo ảnh hưởng phụ thuộc nhau (Suttle, 1975, Underwood,1981; Suttle và Field, 1983).
Suttle và McLauchlan (1976) đã sử dụng công thức sau để ước tính được hàm lượng Cu được hấp thu.
Cu (%)= 5.71 - 1.729 S – ln Mo + 0.227 (S*Mo).
Trong đó: S nồng độ của S trong cỏ(g/kg); Mo nồng độ Mo trong cỏ (mg/kg).
Nồng độ của Mo và S không vượt quá 4 g/kg và không quá 6 mg/kg DM. nồng độ Zn cao (Campbell và Millis, 1979), nồng độ Fe, Ca (Millis, 1979a) cũng làm giảm sự hấp thu Cu.
Mặc đù chưa có một nhu cầu nào chính xác cho nhu cầu của cừu và thường được ước tính dựa vào nhu cầu tối ưu khi cung cấp cho cừu. trong thực tiễn sử dụng, ARC (1980) đã ước tính được nhu cầu về nhu cầu Cu cho cừu. Cừu đang sinh trưởng có trọng lượng từ 5-40kg thì nhu cầu 1.0 – 5.1 mg Cu/kg DM, nhu cầu duy trì ở cừu trưởng thành 4.6 – 7.4 mg Cu/kg DM, nhu cầu cho mang thai 6.2 – 7.5 mg Cu/kg DM và nhu cầu cho việc tiết sữa từ 4.6 – 8.6 mg Cu/kg DM.
Theo đây mức độ Cu là như sau:
Bảng 4: Mức độ sử dụng Cu được Suttle ước tính
Hàm lượng Mo trong khẩu phần (mg/kg)

Hàm lượng Cu được đề nghị (mg/kg DM)


Sinh trưởng
Mang thai
Cho sữa
<1.0
8-10
9-11
7-8
>3.0
17-21
19-23
14-17
(Nguồn: Suttle, 1983c)
Sự khác biệt giữa nhu cầu và khả năng gây độc của Cu là rất hẹp. Những lỗi thường gặp khi trộn thức ăn là sự lặp lại nhiều lần hàm lượng Cu trong thức ăn kết quả là làm tăng tỉ lệ tử chết do bị ngộ độc Cu. Mức độ Cu trong thức ăn sẽ phát huy tác dụng tối đa khi trong chế độ ăn của cừu có hàm lượng Mo thấp. Nếu hàm lượng Mo thấp dưới mức 1 ppm và thức ăn khô có chứa 6- 8 ppm Cu cũng không gây triệu chứng ngộ độc.
Nồng độ của Cu trong máu 0.7 – 1.3 ppm và trong gan là 12 ppm (Pope, 1971). Nồng độ Cu trong gan giúp ích cho việc chẩn đoán được Cu trong cơ thể cừu. Nồng độ của Cu trong vỏ thận giúp ích cho việc chẩn đoán được độc tính của Cu. Dựa vào DM có thể xác định được nồng độ của Cu để có thể gây độc ở gan không được quá 500 ppm và ở vỏ thận 80 – 100 ppm (Pope, 1971). Sự dung huyết, vàng da (có thể nhận thấy ở niêm mạc mắt), gan và thận có màu đậm là từ kết quả của sự ngộ độc Cu (Todd, 1969).
Trong điều trị ngộ độc do Cu, sulfate và Mo có thể giải quyết được tình trạng này. Chế độ ăn cho cừu nếu chỉ đơn độc là sulfate thì làm giảm rất lượng Cu trong gan và việc tổng hợp ceruloplasmin (Ross, 1966). Với khẩu phần ăn với hàm lượng Zn có thể là bảo vệ chống lại ngộ độc Cu. Với lượng Zn 100 ppm trong khẩu phần ăn có thể làm giảm việc tích lũy Cu trong gan (Pope, 1971). Khi hòa tan 100 mg ammonium molybdate và 1 g sodium sulfate vào trong 20 ml nước và cho uống hàng ngày thì có hiệu quả lên cho việc điều trị ngộ độc Cu ở cừu hoặc cho Mo và sulfate vào trong thức ăn cũng có hiệu quả. Cả hai phương pháp điều trị trên cần 5 – 6 tuần (Ross, 1966, 1970).

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

VAI TRÒ CỦA KHOÁNG VI LƯỢNG-KHOÁNG COBAN

VAI TRÒ CỦA KHOÁNG VI LƯỢNG-KHOÁNG COBAN
 - Chức năng duy nhất của Co được biết đến là tham giam vào việc tổng hợp vitamine B12 trong dạ cỏ cừu. Do vậy, sự thiếu Co là có sự ghi nhận triệu chứng thiếu vitamine B12. Thiếu Co làm giảm sự ngon miệng và làm giảm tiết nước bọt, làm gầy mòn cơ thể, con vật yếu ớt, mắc bệnh thiếu máu, giảm động dục, giảm khả năng cho sữa và khả năng sản xuất lông (Ammeman, 1981; Underwood, 1981).
- Những cừu trưởng thành triệu chứng thiếu Co xảy ra khi ăn trên đồng cỏ thiếu Co. Khi bổ sung Co 0.08mg Co/ngày bằng đường uống 3 lần trong tuần thì có sự sinh trưởng tối đa. Một vài tháng đầu tiên nếu bổ sung Co với lượng 0.2 mg/ngày thì cũng nhận thấy cừu con sinh trưởng nhanh (Lee và Markton, 1969). Với những cừu được nuôi trong chuồng thì cần bổ sung 0.07 mg/ngày để đảm bảo duy trì hoạt động sinh trưởng bình thường cho chúng. Tuy nhiên, để duy trì lượng vitamine B12 trong huyết tương và trong gan ở mức cao cần phải bổ sung Co là 0.5-1 mg/ngày (Marston, 1970).
Vitamine B12 chứa bên trong dạ cỏ, gan, máu giúp xác định được hàm lượng Co trong cơ thể, lượng vitamnine B12 trong phân cũng tạo những thuận lợi trong việc xác định hàm lượng Co. Anthomy (1970) đã phát triển công thức tính lượng Co đưa vào cơ thể dựa vào hàm lượng vitamine B12 trong phân.
Y= 0.0779X - 0.0757
Trong đó: Y: Thể hiện cho lượng Co đưa vào bằng đường tiêu hóa với dạng thức ăn khô (mg/kg)
X: Nồng độ vitamine B12 trong phân thể hiện bằng mcg/g phân khô.
Trong nghiên cứu ở 7 tháng trước đó thì không có ghi nhận triệu chứng thiếu Co khi cho ăn 0.09 mg Co/kg DM.
Trong ấn phẩm” Nhu cầu dinh dưỡng cho cừu” năm 1975 đã có xác định được nhu cầu của Co là 0.1mg/kg DM, giá trị này được sử dụng cho tất cả các nhóm cừu. Tuy nhiên, những cừu con đang trong quá trình sinh trưởng thì nhu cầu hơi cao. Theo đề nghị của Lee và Marston (1969).
 Cừu ăn thức ăn có chứa Co là 350 mg/100 kg thể trọng trong thời gian ngắn không tìm thấy những ảnh hưởng bệnh. Mức độ Co là 450 mg/100 kg thể trọng được đề nghị là gây độc cho cừu (Becker và Smint, 1951). Theo NRC (1980) đã đề nghị mức Co trong khẩu phần ăn là 10 mg /kg DM là mức chịu đựng tối đa cho gia súc nhai lại.
TẬN DỤNG TIỀM NĂNG ĐỊA PHƯƠNG TRONG PHÁT TRIỂN NGHỀ MÃNG CẦU GAI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
1. Tiềm năng về trồng trọt tại Đồng bằng sông Cửu Long
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam năm 2011, tổng diện tích các tỉnh, thành thuộc Đồng bằng sông Cửu Long là 40.548,2 km² .Đồng bằng sông Cửu Long là một bộ phận của châu thổ sông Mê Kông có diện tích 39.734 km². Có vị trí nằm liền kề vùng Đông Nam Bộphía Bắc giáp Campuchiaphía Tây Nam là vịnh Thái Lanphía Đông Nam là Biển ĐôngVùng đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam được hình thành từ những trầm tích phù sa và bồi dần qua những kỷ nguyên thay đổi mực nước biển; qua từng giai đoạn kéo theo sự hình thành những giồng cát dọc theo bờ biển.
Đồng bằng sông Cửu Long có các loại hình đất đai chủ yếu là đất phù sa, đất nhiễm phèn và đất nhiễm mặn chiếm diện tích khá lớn.
2. Phát triển loài thực vật thích nghi với điều kiện tự nhiên
Image result for mang cau gai trong
Mãng cầu gai Đồng bằng sông Cửu Long
Chuyện trồng mãng cầu xiêm trên vùng đất  đã có nhiều nông dân ở vùng ĐBSCL thực hiện, nhưng lâu nay mọi người chỉ quen ghép nhánh mãng cầu xiêm trên gốc bình bát. Riêng ông Võ Văn Phải, ở ấp Mỹ Phú A, xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp  thì ươm hẳn hạt mãng cầu xiêm cho lên cây rồi đem trồng.
Đối với đất nhiễm phèn ở vùng ĐBSCL, việc lựa chọn cây trồng thích hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao là điều không dễ, càng khó khăn hơn khi vùng đất này gần đây lại đối diện với hạn, mặn khốc liệt.
Vậy mà tại huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang có một nông dân qua tìm tòi, nghiên cứu đã trồng thành công cây mãng cầu xiêm bằng hạt trên đất nhiễm phèn. Mô hình này mang lại thu nhập khá cao và được nông dân địa phương học hỏi, làm theo.
Ông Phải tâm sự, vùng đất quê ông bị nhiễm phèn nặng, trước đây chỉ trồng được mía và một vụ lúa nhưng cho thu nhập không cao. Gia đình ông có đến 10 công đất trồng mía nhưng đến lúc sắp thu hoạch thì lũ tràn về ngập gốc làm giảm năng suất, chất lượng, rồi bị thương lái ép giá nên năm nào cũng thua lỗ.
Cách nay hơn 7 năm, ông mạnh dạn phá một phần mía, lên bờ rồi ươm hạt mãng cầu xiêm trồng trên 5 công đất. Không ngờ 2 năm, cây mãng cầu xiêm đã cho trái. Với giá bán từ 18.000 – 30.000 đồng/kg, tính ra mỗi năm ông có thu nhập từ 450 triệu đến gần 600 triệu đồng/5 công mãng cầu. Theo ông Phải do đây là vùng đất phèn nặng nên phải giảm được độ phèn thì cây mãng cầu mới phát triển tốt.
“Đầu vụ và cuối vụ tôi tưới vôi cũng các loại thuốc giảm phèn vào đất nên mãng cầu sinh trưởng và phát triển rất tốt. Tỷ lệ pha trộn được nghiên cứu và tìm ra trong quá trình trồng mãng cầu nhiều năm, nhưng quan trọng là tuân theo định hướng của các nhà khoa học đã từng nói rất nhiều”, ông Phải chia sẻ.
Cũng theo ông Phải, mãng cầu xiêm thường cho trái 2 vụ. Vụ thuận vào mùa nắng và vụ nghịch vào mùa mưa. Tuy nhiên, để mãng cầu tự thụ phấn sẽ cho trái rất ít. Do vậy, qua thời gian nghiên cứu, học hỏi, ông Phải đã tìm ra bí quyết để thụ phấn cho cây mãng cầu ra trái nhiều và quanh năm. Nhờ phương pháp này mà vườn mãng cầu của ông cho năng suất khá cao. Cây mãng cầu 2 năm tuổi đạt từ 100 - 120kg/ cây, những cây lâu năm hơn có thể đạt hơn 200kg/cây/năm.
“Khi mãng cầu ra hoa, vào buổi chiều cần phải hái hoa mãng cầu cái và phơi trong 8 giờ cho hoa bung nhụy, sau đó trút nhụy hoa vào ly thủy tinh cho vào tủ lạnh để ở ngăn mát. Khoảng  8-9 giờ sáng kiểm tra xem thấy nhụy có nước nhô lên thì chấm phấn vào nụ thì mãng cầu sẽ đậu quả. Cách khác đơn giản hơn là lắc bông mãng cầu cho nhụy và phấn rơi vào đáy hoa mãng cầu mới đậu quả”, ông Phải chia sẻ bí quyết.
Từ mô hình trồng mãng cầu xiêm bằng hạt cho thu nhập cao của ông Võ Văn Phải, nhiều nông dân đã cải tạo vườn tạp học hỏi trồng theo. Hiện toàn huyện Phụng Hiệp đã có gần 100 ha trồng mãng cầu xiêm bằng hạt, trong đó riêng xã Hòa Mỹ đã chiếm gần 50 ha.
Tại xã Hòa Mỹ cũng đã thành lập Tổ Hợp tác làm vườn xã Mỹ Phú A với 48 thành viên chuyên trồng mãng cầu xiêm bằng hạt. Tổ hợp tác bên cạnh việc học hỏi, áp dụng khoa học kỹ thuật để tăng năng suất, chất lượng. Các thành viên còn cùng nhau nghiên cứu đề ra những cách thức để ứng phó với biến đổi khí hậu, nhất là việc cải tạo những ao, mương trong vườn mãng cầu để tích nước trong mùa mưa phòng khi hạn, mặn xảy ra có được nguồn nước tưới tiêu.
Ông Phạm Văn Hùng, Chủ tịch Hội nông dân xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp cho biết, khi thành lập tổ hợp tác, nhiều hộ đã vươn lên thoát nghèo. Riêng hội nông dân tới đây sẽ kết hợp với ngành khuyến nông để mở lớp chuyển giao khoa học kỹ thuật giúp cho bà con am hiểu kỹ thuật về trồng mãng cầu.
Cũng theo ông Hùng, hiện tại các thành viên Tổ Hợp tác làm vườn xã Mỹ Phú A đang cắt lá, tuyển cành, xử lý cho mãng cầu xiêm ra hoa để cung cấp trái phục vụ thị trường Tết Đinh Dậu 2017. Trái mãng cầu thường được người dân chọn chưng trong mâm ngũ quả nên vào dịp Tết rất hút hàng và có giá cao./.

Thứ Sáu, 19 tháng 5, 2017

KỸ THUẬT NUÔI DÊ CON
1. Sau khi đẻ đến 10 ngày tuổi:

Dê con vừa đẻ xong bạn lau khô mình cho nó rồi cắt rốn ngay (cắt cách cuống rốn 3-4cm, vuốt hết máu ra ngoài). Sau đó, bạn lấy dây chỉ buộc cuống rốn cách bụng khoảng 3-4cm rồi cắt phần bên ngoài của cuống rốn, sát trùng chỗ cắt bằng oxy già hay cồn iod 5%.
- Vẫn để dê nằm chung chuồng với mẹ, lót chỗ nằm bằng rơm hoặc cỏ sạch.
- Trong nửa giờ sau khi đẻ, dê con cần được bú sữa đầu vì lúc này sữa mẹ rất tốt, có nhiều chất dinh dưỡng và kháng thể giúp dê con mau lớn, có sức đề kháng chống được tình trạng suy dinh dưỡng và bệnh đường tiêu hoá.
- Nếu dê con quá yếu, không tự bú được thì bạn tập cho nó bú hoặc vắt sữa vào bình rồi cho nó bú 3-4 lần/ngày.
- Nếu dê mẹ không chịu cho bú thì bạn giữ chặt dê mẹ, vắt bỏ tia sữa đầu rồi đưa núm vú vào miệng dê con, tập cho nó bú. Lúc nào nhận thấy dê con đã bú no bạn mới cho nó rời vú mẹ. Tập cho sê bú vài ngày như thế thì dê mẹ sẽ cho con bú trực tiếp. Ngoài ra bạn cần tập cho dê con bú đều hai vú mẹ. Nếu chỉ bú một bên, vú còn lại sẽ cương sữa làm dê mẹ đau, không chịu cho con bú nữa.
2. Từ 11-45 ngày tuổi:
 - Đây là giai đoạn vắt sữa dê mẹ (2lần/ngày, lúc sáng và chiều tối đối với dê mẹ có năng suất sữa trên 1lít/ngày). Sau khi vắt sữa xong bạn cho dê con bú phần sữa còn lại trong bầu vú của dê mẹ.
- Nếu thấy dê con bú chưa no thì bạn cho nó bú thêm khoảng 300-350 ml sữa (bằng bình, 2-3 lần/ngày).
- Mỗi ngày bạn cho dê con bú khoảng 450-600ml sữa là vừa. Để xác định được lượng sữa dê con đã bú, bạn cân trọng lượng của nó trước và sau khi cho bú.
- Nếu dê mẹ tiết sữa dưới 1lít/ngày, bạn chỉ vắt sữa 1lần/nagỳ vào buổi sáng và cần tách dê con khỏi mẹ từ 5 giờ chiều hôm trước đến 6 giờ 30 phút sáng hôm sau. Rồi bạn cho dê con theo mẹ suốt thời gian còn lại trong ngày, không cần cho bú thêm bằng bình.
- Từ lúc dê 11 ngày tuổi trở đi, bạn có thể cho nó ăn thêm các loại thức ăn dễ tiêu như các loại cỏ lá non sạch, chuối chín, bột bắp, bột đậu nành rang…
- Lượng thức ăn tăng dần: Từ 28 đến 45 ngày tuổi cho ăn khoảng 30-35 g thức ăn tinh; từ 46-90 ngày tuổi cho ăn 50-100g thức ăn tinh.
3. Từ ngày 46-90  tuổi:
 - Ở giai đoạn này bạn chỉ cho dê con bú 2 lần/nagỳ và giảm lượng sữa cho bú xuống (từ 600ml còn 400ml). Thay vào đó bạn cho dê con ăn dặm thêm thức ăn dinh dưỡng (nên hâm nóng ở 38-40oC).
- Riêng bình sữa, bạn cần khử tiệt trùng trước và sau khi cho bú, lau sạch nền chuồng khi dê con đã bú xong.
- Bạn cần thả dê con đi lại tự do trong sân chơi hoặc chăn thả nơi gần chuồng để tập cho nó vận động.
- Dê con dễ bị cảm lạnh, tiêu chảy, viêm loét miệng, do đó bạn nên giữ ấm cho nó khi trời trở gió (lót ổ rơm sạch, che chắn chuồng và vệ sinh chuồng trại thường xuyên…). Ngoài ra, bạn không nên chăn thả dê con dưới 1 tháng tuổi.
- Nếu thấy dê con gầy yếu, suy dinh dưỡng, bạn cần cho ăn thêm những chất bổ sung dinh dưỡng như vitamin và premix khoáng hoặc nên loại bỏ ngay để tránh lãng phí tiền của và công nuôi mà không đạt kết quả tốt

Thứ Sáu, 12 tháng 5, 2017

GIẢI PHÁP TRONG NỀN NÔNG NGHIỆP CÒN BỎ LỠ

QUY TRÌNH HƯỚNG DẪN Ủ PHÂN HỮU CƠ VI SINH
VỚI NẤM TRICHODERMA (Tricô-ĐHCT)
& VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM + HOÀ TAN LÂN 
Dương Minh-Khoa Nông nghiệp & SHƯD, Đại học Cần Thơ
1. ƯU ĐIỂM CỦA VIỆC SỬ DỤNG PHÂN HỮU CƠ VI SINH
Sử dụng phân hữu cơ + VSVật đối kháng giúp cây trồng:
- Ổn định năng suất, giảm rủi ro về bệnh trong đất và không khí lâu dài.
- Tạo sản phẩm có chất lượng, an toàn, không kháng thuốc đồng thời tăng chất lượng sản phẩm (nhờ hữu cơ cung cấp) và giảm chi phí sản xuất.
- Thuốc trừ bệnh sinh học Tricô-ĐHCT có khả năng phân hủy tốt nhiều dư thừa thực vật thành phân hữu cơ đồng thời giúp ngăn chận nấm bệnh hại cây trồng.
- Các vi khuẩn cố định Đạm và hòa tan Lân tổng hợp chất N trong không khí và hòa tan chất P trong đất, cung cấp cho cây giúp tiết kiệm chi phí mua phân bón nhờ giảm được khoảng 100-150 kg/ha phân hóa học cần phải bón cho cây.


2. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ Ủ NÓNG PHÂN HỮU CƠ ĐẠT YÊU CẦU
- Cân bằng nguyên liệu với tỷ lệ C/N thích hợp (C/N = 25/1 đến 30/1).
- Tạo ẩm độ đống ủ đạt 50 – 60% (cân bằng nước và độ thông thoáng).
- Giử nhiệt độ đống ủ đạt ≥ 550C
- Đão trộn đống ủ (sau 3-4 tuần ủ) để tạo thoáng khí.
  • TỶ LỆ C/N CỦA CÁC NGUYÊN LIỆU:

  • Xác bã thực vật:
  • Phân chuồng:
  • Xác bã trái cây 40
  • Gà vịt 10
  • Thân lá cây họ đậu 35
  • Heo 15
  • Xác bã rau cải 12
  • Trâu, bò, dê 18
  • Vỏ trấu 120

  • Rơm, rạ 55-60


LƯỢNG NGUYÊN LIỆU HỮU CƠ CẦN Ủ ĐỦ BÓN CHO 1000 m2 CÂY TRỒNG
Rơm, cỏ hay lá cây khô (kg)
Phân chuồng (bò, heo...,
bao 40 kg)
Urê bổ sung
(g/m3, pha tưới)
200
8 bao
0
250
4 bao
50-75 g
300
2 bao
100-150 g
350-450
0
200-250 g

3. QUY TRÌNH HƯỚNG DẪN Ủ PHÂN HỮU
 CƠ VI SINH VỚI TRICÔ-ĐHCT & VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM -HÒA TAN LÂN

3.1 Nguyên liệu

 - Dư thừa thực vật (đã phơi héo): Rơm, cỏ, lục bình, lá cây... (các xác bã thực vật).
- Phân chuồng: 1/2 thể tích (nếu được).
- Bạt nhựa phủ để giử ẩm và nóng (nên chọn bạt đục, không dùng ny-lông trong).
- Phân Urê (pha 50-200 g/m3, tưới lên rơm rạ, nếu nguyên liệu có C/N > 30).
- Tro bếp (1-2 kg/m3, nếu có).
- Nấm Trichoderma: TRICÔ-ĐHCT (20-30 g/m3)

3.2 Cách ủ





  1. Gom hữu cơ (đã tưới ẩm qua đêm) từng lớp (+ tro bếp) theo đống hoặc ví trong bạt nhựa đục dày kho
  2. ảng 20 cm (vật liệu khô để lớp dưới, ướt lớp trên).
  3. Tưới nước vừa đủ ẩm (nắm chặt vừa rịn nước). Dùng chân đạp để đống hữu cơ được nén dẽ xuống.
  4. Tưới Urea pha loảng (30-150 g/m3, nếu tỷ lệ xác bã thực vật nhiều hơn phân chuồng) và nấm TRICÔ-ĐHCT (20-30 g/m3) lên từng lớp dày 20 cm .
  5. Phủ kỷ bạt nhựa để giữ ẩm
  6. Vun mặt đống ủ thành đống (đáy 2 m, cao # 1,2-1,6 m). Trong mùa mưa nên đánh rãnh xung quanh đống ủ để thoát nước.
  7. Kiểm tra ẩm độ (40-60%) và nhiệt độ (> 500C) hằng tuần để bổ sung thêm nước hoặc Urea. Cần chú ý tưới nước bổ sung trong 3 tuần đầu để đủ ẩm.
  8. Cần đão đống ủ sau 3 tuần, nhất là khi bị thừa nước (nếu được).
  9. Vào tuần thứ 4, khi đống ủ hạ nhiệt độ còn khoảng 400C (vừa ấm tay), tưới bổ sung vi khuẩn cố định Đạm và Lân: Dùng nọc tre xom thành lổ (6-10 lổ, sâu 40-50 cm), rót dung dịch vi khuẩn (2 lít/m3) vào các lổ.
  10. Đống ủ hoai sau 6-8 tuần (không còn ấm), tùy nguyên liệu.

  HƯỚNG DẨN NUÔI CẤY

VI KHUẨN CỐ ĐỊNH ĐẠM & HOÀ TAN LÂN
1. Yêu cầu nguyên liệu
Để nuôi cấy cho 100 lít dung dịch vi khuẩn hòa tan lân và cố định đạm, cần phải có:
- Thùng nhựa 100 lít hay khạp sành rửa sạch
- Đường cát (1 kg ), giấm ăn (1 xị : 250 ml) và 100 g tro bếp (1 tô đầy)
Mỗi loại vi khuẩn nhân nuôi ở một thùng hay khạp riêng (không nuôi chung)
Hình 14: Thực hành nhân giống vi khuẩn cố định N + hòa tan P (để chủng vào đống ủ hữu cơ)
2. Cách thực hiện



1. Tráng nước sôi lên thùng nhựa, khạp sành để sát trùng.
2a. Với vi khuẩn cố định đạm: Nấu 2 lít nước sôi (hoặc nóng khoảng 700C), thêm 1 kg đường cát vào, quậy đều. Sau đó thêm 1 xị giấm ăn vào và quậy đều.
2b.Với vi khuẩn hòa tan lân: Nấu 2 lít nước sôi, thêm đường cát (1 kg) và tro bếp (100 g) đổ vào thùng nhựa hay khạp, quậy đều, để nguội.
3. Đổ thêm dần dần 96 lít nước sạch (cần chú ý để không bị phỏng), quậy đều đến khi nhiệt độ hạ xuống ở nhiệt độ bình thường (lấy tay sờ không nóng).
4. Thêm 1-2 lít dung dịch vi khuẩn đã lên men (đã có trước), quậy đều và dùng bạt sạch đậy miệng thùng (hay khạp), sau đó đậy nắp và dằn gạch lên nắp để không bị bung.
5. Với vi khuẩn cố định đạm mỗi ngày quậy mạnh một lần để tạo độ thoáng khí, giúp vi khuẩn mau lên men.
6. Sau 7 – 10 ngày (khi dung dịch vi khuẩn lên men xong), sản phẩm có thể sử dụng để tưới cho cây trồng
7. Liều lượng: Hòa 10 lít dung dịch lên men trong nước và dùng thùng búp sen tưới cho 1000 m2 cây trồng như rau, màu, cây ăn trái. Đối với lúa, đổ thẳng dung dịch lên men vào ruộng lúa (20 lít/1000 m2).
8. Nên chừa lại phần đáy (10 lít) và nấu nước đường (thêm vừa đủ 100 lít) để nguội bổ sung ủ tiếp cho đợt 2 (100 lít).
Lưu ý: Chỉ nên nhân nuôi vi khuẩn KHÔNG QUÁ BA LẦN
Trích dẫn: Dương Minh-Đại học Cần Thơ

TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGUỒN PHÂN HỮU CƠ-PHÂN DÊ

TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGUỒN PHÂN HỮU CƠ SẴN CÓ Mở đầu việc tận dụng phân chuồng cho bất kỳ quá trình cải thiện nào ở cây trồng, điều đầu tiê...